những hoàn cảnh đặc biệt đã xác định một cách lịch sử tính chất của mỗi đổ thị: cách bố phòng, những phát minh khoa học, kế thừa việc điều hành, những tiếm năng phát triển hạ tầng và các phưong tiện giao thông (đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đường không):
Lịch sử của một quốc gia được viết qua các tuyến đường và qua kiến trúc của đô thị. Những dạng thức của chúng được lưu giữ đến ngày nay là sợi chỉ dẫn đường. Khi kết nối làm một các tư liệu bằng chữ và bằng biểu đồ, chúng cho phép ta lần lượt mường tượng ra những hình ảnh của quá khứ.
Những xung lực làm nên đô thị vốn rất khác nhau về bản chất. Có khi là nhằm mục tiêu phục vụ cho phòng thủ. Và các đỉnh núi đá cao, các khúc ngoặt của con sống đã gợi ý cho sự xuất hiện một đô thị công sự. Có khi lại là nơi giao nhau giữa hai con đường, nơi các mố đầu cầu hay hẻm núi xác định trước vị trí điểm dân cư đầu tiên.
Đô thị không hề có một hình dáng nhất định. Thường thì đó là hình tròn hay nửa hình tròn. Đô thị thực dân được lập theo nguyên lý trại lính: trên hai trục thẳng vuông góc được quây bằng hàng rào. Mọi thứ xây dựng được bảo lưu tỉ lệ và tuân thủ đẳng cấp. Đường sá bắt đầu từ cổng thành và toả ra các hướng.
Ngày nay khi xem xét các hoạ đồ đố thị, ta có thể phát hiện ra hạt nhân của điểm dân cư đầu tiên, trình tự hình thành các tuyến công sự và mạng lưới đường. Cũng có thể nhận ra rằng, với sự phát triển nền văn minh, sự thịnh vượng của con người biến đổi và tăng trưởng như thế nào.
Một mặt, những nguyên tắc nhân đạo sâu sắc đã dẫn đến các giải pháp kiến trúc đúng đắn. Mặt khác, thói cưỡng chế và chuyên quyển lại đẻ ra sự bất công rõ rệt. Nhưng rồi đã xuất hiện kỷ nguyên cơ giới, khiến cho những định lượng vốn được xem là bất biến từ ngàn năm – chẳng hạn như tốc độ của bước chân con người nay bỗng thay đổi trong quá trình tiến hoá của những thứ khác, ví dụ như tốc độ di chuyển bằng các phương tiện cơ giới.

những luận cứ thiên vẻ việc mở rộng đổ thị được xem là cơ sở cho những cải tạo tiếp theo:
Sự tăng cường hoặc thâm hụt dân số, sự thăng hoa hay suy tàn của đô thị, sự dỡ bỏ những bức tường rào ngột ngạt, những phương tiện giao thông mới làm tăng cường các vùng biến thiên, lợi ích hay tác hại do chính sách này nọ mang lại, sự xuất hiện của cơ giới – mọi thứ đó không phải điều gì khác, ngoài cái gọi là sự vận động. Lâu dần, những điều thực sự có giá trị sẽ trở thành sở hữu tập thể, dù tập thể đó là một đô thị, một đất nước hay toàn nhân loại.
Nhưng rồi một lần kia, những thực thể hoàn chỉnh ấy – cả nhà cửa đường sá – bỗng trở thành xưa cũ. Cái chết cùng lúc tiêu huỷ một cách chuẩn xác cả các thành quả lao động lẫn mọi sự sống.
Liệu ai có thể phân biệt xem cái gì đáng tồn tại và cái gì phải biến đi ? Linh hồn một đô thị được hình thành qua nhiều năm tháng. Những toà nhà đơn giản có thể mang giá trị vĩnh cửu, một khi nó là biểu tượng của tinh thần tập thể, là rường cột của truyền thống. Dù không muốn kìm hãm đà phát triển của thế hệ tương lai, nó cũng chế định sự hình thành cá thể giống như khí hậu, địa điểm, tộc người, tập quán vậy. Vì lẽ đô thị – đó là một “tổ quốc thu nhỏ”. Nó đại diện cho những giá trị đạo đức phải tính đến và có mối liên quan không thể xoá bỏ với đô thị.

Sự bắt đấu của kỷ nguyên cơ giới đã khơi dậy những xáo trộn lớn trong ứng xử của mọi người, trong việc định cư của họ trên mặt đất và trong những hoạt động khác: sự chuyển dịch không khống chế nổi của đám đồng trong các đồ thị nhỏ vào tốc độ cơ glơl – một sự đại tiễn hoá đột biến võ tiên khoáng hậu trong lịch sử. sự hỗn loạn thâm nhập các đõ thị:

Việc ứng dụng máy móc đã làm đảo lộn mọi điều kiện lao động. Nó phá vỡ sự cân bằng có từ ngàn năm, giáng đòn chí mạng vào những người thợ thủ công, làm trống rỗng các làng mạc, làm ô nhiễm các đô thị, tước đi sự cân bằng đã tổn tại nhiều thế kỷ, phá hỏng mối quan hệ tự nhiên giữa tổ ấm gia đình với nơi làm việc.
Nhịp sống quay cuồng trong sự kết nối với tính chán chường vì mất lòng tin đã phá vỡ hoàn cảnh sống, khiến cho việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản trở thành đối lập với sự hài hoà.
Chỗ ở không còn là nơi trú ẩn an toàn cho các gia đình. Cuộc sống riêng tư của họ bị vi phạm, và sự thiếu hiểu biết những nguyên tắc sống tối thiểu trong lĩnh vực sinh lý học cũng như đạo đức đã dẫn tới những hậu quả trầm trọng: bệnh tật, thoái hóa, phẫn uất. Cái ác trở thành bao trùm. Nó hiển hiện trong đô thị, giữa nơi tụ hội đỏng người, gây nên nhiều sự hỗn loạn. Còn ở các làng mạc, nó làm cho vô số đất đai trở thành hoang hoá.